MỘT NỮ GIÁM ĐỐC TÀI NĂNG, TẬN TỤY VỚI CÔNG VIỆC


        Bài của TS. Trần Hoàng – Nguyên Cục trưởng Cục Văn thư & Lưu trữ Nhà nước – Bộ Nội vụ viết về TS. Phạm Thị Huệ, Giám đốc Công ty TNHH Khoa học Công nghệ Lưu trữ Sài Gòn, đăng trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam – số 1/2014 (tháng 1/2014).

 

MỘT NỮ GIÁM ĐỐC

TÀI NĂNG, TẬN TỤY VỚI CÔNG VIỆC

T.H

(TS. Trần Hoàng –

Nguyên Cục trưởng Cục Văn thư & Lưu trữ Nhà nước – Bộ Nội vụ)

 

        Kết thúc buổi lễ chia tay để về nghỉ chế độ theo quy định của  Nhà nước, Tiến sĩ – Giám đốc Phạm Thị Huệ rời thành phố Đà Lạt về Thành phố Hồ Chí Minh trong bịn rịn và nỗi nhớ nhung của nhiều viên chức Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

        Chị Phạm Thị Huệ sinh năm 1958 tại Nam Định, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp, chuyên ngành Hán Nôm năm 1981. Cũng trong năm  này, chị cùng với chồng, cũng là sinh viên chuyên ngành Hán Nôm (hiện là Giám đốc Trung tâm lưu trữ quốc gia II – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoài) về nhận công tác tại Kho Lưu trữ quốc gia  II ở thành phố Hồ Chí Minh.

        Năm 1998, chị được Cục Lưu trữ Nhà nước cử đi  Nhật Bản để học tập về kỹ thuật tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ. Năm 1999, chị được bổ nhiệm làm Phó Trưởng phòng, rồi Trưởng phòng  Tổ chức Sử dụng tài liệu của Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (2001).

        Chị Phạm Thị Huệ là tấm gương sáng vừa làm, vừa học của ngành Lưu trữ. Không vừa lòng với tấm bằng cử nhân Hán Nôm, do nhu cầu công việc, chị đã học tiếp và năm 2004 chị tốt nghiệp Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ  Chí Minh, chuyên ngành  Lưu trữ học và quản trị văn phòng (bằng Đại học thứ 2).

        Năm 2008, chị bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ Lịch sử đạt loại xuất sắc, được chuyển tiếp Nghiên cứu sinh. Năm 2011, chị bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Sử học. Luận án Tiến sĩ được chị biên soạn lại và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in thành sách chuyên khảo.

        Năm 2006, Tiến sĩ Trần  Hoàng – Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ  Nhà nước lúc bấy giờ, đã phải đắn đo nhiều ngày trước khi ký Quyết định điều động chị lên Đà Lạt giữ chức vụ Quyền Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV vừa mới được thành lập. Bỏ lại một công việc tốt ở thành phố Hồ Chí Minh, đi xa gia đình đang yên ấm tới 300 cây số, chị bắt tay luôn vào việc  xây dựng Trung tâm  Lưu trữ Quốc gia IV còn non trẻ. Từ đây, chị đã động viên, khích lệ các viên chức của Trung tâm để cùng nhau vượt bao khó khăn để xây dựng một cơ quan, một “gia đình” đoàn kết.

        Khu Biện điện Trần Lệ Xuân hoang phế sau bao nhiêu năm chiến tranh và thiếu thốn kinh phí sửa sang đã được chị Phạm Thị Huệ và các đồng nghiệp ở Trung tâm làm cho hồi sinh. Kho bảo quản tài liệu Mộc bản được xây cất khang trang, các Mộc bản được số hóa và xếp đặt khoa học, trật tự. Khu Biệt điện thay áo mới từ phế tích.  Khu trưng bày tài liệu Mộc bản và lịch sử miền Trung – Tây Nguyên thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Trung tâm  Lưu trữ quốc gia IV trở thành điểm đến yêu thích của khách du lịch, của công chúng trong nước và quốc tế. Một Kho lưu trữ vốn được coi là tẻ nhạt, nay dưới bàn tay của nữ Giám đốc, trở thành điểm đến tham quan với cây xanh, vườn hoa, thảm cỏ.  Bể bơi của Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân ngày nào, nay nước trong xanh và cây SODACAM lá xanh, hoa đỏ đứng điểm tô cho hồ bơi mà vấn vương đâu đó bóng dáng của những nhân vật lịch sử vang bóng một thời.

        Khu trưng bày tài liệu ngoài trời đẹp như tranh vẽ. Hiếm có du khách nào ghé thăm Trung tâm lại bỏ qua việc ghi lại một kiểu ảnh ở nơi đây. Vườn hoa Nhật  Bản do chính các chuyên gia Nhật Bản sang thiết kế, thi công, với hồ nước hình bản đồ Việt Nam nằm giữa những cây cầu cong cong tuyệt đẹp và những khóm trúc Nhật duyên dáng, làm cho du khách tưởng mình đang lạc giữa đất nước của hoa Anh đào.

        Chị Huệ là một trong những người đầu tiên tìm đường vinh danh cho tài liệu lưu trữ - một cách để phát huy giá trị tài liệu lưu trữ. Chị là người được giao trọng trách chủ trì nghiên cứu, dịch thuật và thuyết minh hồ sơ đăng ký Mộc bản  Triều Nguyễn vào Chương trình Ký ức thế giới. Chị đã cùng các đồng nghiệp của mình ở Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV dò dẫm từng bước để lập hồ sơ. Hơn hai năm âm thầm, vất vả,  kiên trì làm đi, làm lại hồ sơ nhiều lần, ngày 31/7/2009,  Mộc bản triều  Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thế giới đầu tiên của 3 nước Đông Dương. Đây là một vinh dự vô cùng lớn lao của cả ngành Văn thư, Lưu trữ.

        Chị miệt mài đọc và nghiên cứu hàng ngàn tấm Mộc bản. Nhiều ngày Chủ nhật, gọi điện vào Đà Lạt,  chúng tôi vẫn nghe giọng chị trả lời, đôi khi không khỏe, giọng khản đặc mà vẫn ngồi đọc Mộc bản.

        Rồi “thần Siêng Năng” đã thưởng công chị: Chị tìm ra bản khắc gỗ cổ nhất (tính tới thời điểm hiện tại ) “Chiếu dời đô” của vua Lý Công Uẩn  (tức Lý Thái Tổ) đúng dịp Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; “Hịch tướng sỹ”của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi, bản khắc sự kiện vua Minh  Mạng đặt tên cho Hà Nội và nhiều bản khắc chữ Hán Nôm ngược, chứng minh chủ quyền của Việt  Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa...

        Theo chúng tôi, một trong những thứ quý nhất chị để lại ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV là một đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, say mê, yêu nghề và tận tụy với công việc mà chị đã dày công đào tạo, và có lẽ quý hơn nữa là một tấm lòng với nghề, với người của chị.

        Nhìn danh mục các công trình khoa học của chị đã công bố đến nay (2013) mà kính nể: 18 cuốn sách (viết chung và viết riêng), trong đó có tác phẩm khảo cứu khoa học hàng ngàn trang; 13 báo cáo khoa học trình bày trong các cuộc hội thảo trong nước và quốc tế; 180 bài báo đăng trên các báo, tạp chí uy tín trong và ngoài nước.

        Vì những đóng góp to lớn của sự nghiệp Lưu trữ, chị đã được tặng thưởng Huân chương Lao động  hạng Ba của Chủ tịch nước; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 8 Bằng khen của Bộ trưởng và Chủ tịch tỉnh; Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp UNESCO Việt  Nam”. Không những thế, chị còn được xác lập “Kỷ lục Việt Nam” vì đã có “Công trình khai thác và phổ biến tư liệu về khoa bảng Nho học lớn nhất từ kho Di sản Mộc bản triều  Nguyễn”.

        Sau khi chị nghỉ, Khu Biệt điện  Trần Lệ Xuân sẽ vắng bóng dáng một nữ Giám đốc đi về, trầm tư dạo bộ quanh vườn hoa Nhật Bản vì công việc. Người ta lại thấy chị trên nhiều Giảng đường Đại học, hay ở cương vị mới là làm Giám đốc Công ty TNHH Khoa học Công nghệ Lưu trữ Sài Gòn – một mô hình mới về Lưu trữ nhân dân. Mọi người lại thấy chị trên diễn đàn Hội nghị Khoa học quốc tế tại Hàn Quốc vào ngày 21/6/2013-23/6/2013 để tôn vinh Mộc bản triều Nguyễn và giá trị Mộc bản tại Đông Á, vẫn thấy  chị trên ti vi, trong các phim tư liệu của Đài Truyền hình để nói về Mộc bản – Di sản quý hiếm của Việt Nam và thế giới.

        Để kết thúc bài viết này, chúng tôi mượn 4 câu thơ trong bài thơ “Mimôza giữa  ngàn thông” của  Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ  Đặng Quốc Tiến tặng chị Phạm Thị Huệ nhân Kỷ niệm 5 năm Ngày thành lập Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV:

Cô gái Đô thành tưởng chừng không vượt được

Nhưng lòng yêu nghề đã chiến thắng gian nan

Tìm lại những gì trong quá khứ hoang tàn

Để hôm nay trở thành Di sản./.